1.1. Chi tiết Phần I: Đọc hiểu (4,0 điểm)
Phần Đọc hiểu năm nay sử dụng một ngữ liệu duy nhất là đoạn trích từ cuốn sách khoa học công nghệ, kỹ năng xã hội có tựa đề “CODE VÀ CÁT - Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới”. Hệ thống câu hỏi gồm 05 câu được thiết kế khoa học, đi từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng thực tiễn:
Câu 1 (0,5 điểm) - Nhận biết: Yêu cầu học sinh chỉ ra nơi lưu giữ tri thức trước năm 1440 dựa trực tiếp vào thông tin trong đoạn (2). Thí sinh dễ dàng tìm được đáp án trực tiếp trong văn bản là “trong các thư viện, tu viện, sau những cánh cổng sắt của các lâu đài, trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu”. Đây là mức độ tái hiện thông tin đơn giản nhất.
Câu 2 (0,5 điểm) - Nhận biết: Yêu cầu chỉ ra câu văn cụ thể chứa bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4). Đáp án đúng là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại”. Câu hỏi này đánh giá năng lực định vị thông tin chi tiết trong văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm) - Thông hiểu: Yêu cầu giải thích ý nghĩa cụm từ “tài sản bị giam cầm” (ở đoạn 2) và từ “nhiên liệu” (ở đoạn 5) trong văn cảnh nói về tri thức. Thí sinh phải hiểu được “tài sản bị giam cầm” chỉ tri thức bị độc quyền bởi tầng lớp tinh hoa, bị giới hạn phạm vi phổ biến; còn “nhiên liệu” đóng vai trò là động lực mạnh mẽ, nguồn năng lượng thúc đẩy sự phát triển của dân trí, khoa học và cuộc cách mạng công nghiệp lớn.
Câu 4 (1,0 điểm) - Thông hiểu/Vận dụng thấp: Yêu cầu nhận xét mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản. Đáp án chỉ rõ luận đề (Công nghệ in ấn là nhân tố quyết định vận mệnh của các quốc gia) được làm sáng tỏ một cách chặt chẽ qua các luận điểm đối lập trước và sau khi máy in ra đời, theo cả trật tự thời gian (trước và sau năm 1440) và trật tự không gian (Châu Âu phát triển vượt bậc nhờ giải phóng tri thức, trong khi Ottoman trì trệ suốt 300 năm vì cấm in ấn).
Câu 5 (1,0 điểm) - Vận dụng cao: Đặt học sinh vào bối cảnh bùng nổ công nghệ hiện nay, từ góc nhìn người trẻ, đề xuất cách sử dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo nên sự “cộng hưởng trí tuệ”. Thí sinh cần chỉ ra được hai khía cạnh hành động: (1) Sử dụng AI để nâng cao hiệu quả tìm kiếm, tổng hợp thông tin, kết nối tri thức và mở rộng tư duy sáng tạo; (2) Có tư duy kiểm chứng, phản biện lại thông tin do AI cung cấp để hình thành ý tưởng khoa học mới có giá trị, đóng góp vào sự phát triển xã hội.
1.2. Chi tiết Phần II: Viết (6,0 điểm)
Phần viết được cấu trúc chặt chẽ nhằm đánh giá hai kỹ năng cốt lõi của học sinh trung học phổ thông: nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
Câu 1 (2,0 điểm) - Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ): Đề tài mang đậm hơi thở thời đại và công nghệ: “Làm thế nào để có những 'Steve Jobs Việt Nam'?” từ gợi dẫn về những nhà phát minh công nghệ vĩ đại của nước Mỹ như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk. Đây là dạng câu hỏi yêu cầu giải pháp hành động cụ thể dưới góc nhìn của chính thế hệ trẻ, thuộc mức độ Vận dụng cao. Thí sinh phải tự ý thức được trách nhiệm của cá nhân (tự học, tư duy đột phá, khát vọng lớn, nâng cao năng lực ngoại ngữ và năng lực số) đồng thời nhìn nhận các giải pháp vĩ mô của xã hội (nền giáo dục khai phóng, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, cơ chế trọng dụng nhân tài).
Câu 2 (4,0 điểm) - Viết bài văn nghị luận văn học (khoảng 600 chữ): Yêu cầu học sinh phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Ngữ liệu nằm hoàn toàn ngoài sách giáo khoa, đòi hỏi học sinh vận dụng năng lực đọc hiểu đặc trưng thể loại thơ tự do để phân tích sự chuyển biến tâm trạng, cảm xúc của những chiếc lá trước và sau khi chú bé xuất hiện. Câu hỏi tích hợp các mức độ từ nhận diện hình thức nghệ thuật, phân tích cảm xúc, đánh giá đặc sắc nội dung nghệ thuật, cho đến liên hệ mở rộng để rút ra bài học nhân sinh sâu sắc về lẽ sống hiến dâng và tình yêu thương ấm áp.
HƯỚNG DẪN CHẤM THEO RUBRIC
ĐIỂM MỚI, ĐIỂM KHÓ SO VỚI NĂM 2025
1. Hướng dẫn chấm chi tiết theo Rubric
Điểm cốt lõi thay đổi cách thức chấm thi môn Văn năm 2026 chính là việc áp dụng Rubric chấm điểm chi tiết chia thành 4 mức độ (từ Mức 1 đến Mức 4) cho cả phần Viết đoạn (Câu 1 - 2,0 điểm) và phần Viết bài (Câu 2 - 4,0 điểm). Sự phân tách này giúp hoạt động chấm thi đạt độ chính xác, công bằng cao và giảm thiểu tối đa tính cảm tính của người chấm:
1.1. Rubric phần Viết đoạn (2,0 điểm):
- Nội dung kiến thức (1,25 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,25 điểm) và Đề xuất giải pháp thiết thực (1,0 điểm). Thang chấm quy định rất chặt chẽ theo số lượng ý cụ thể trong đáp án: Mức 4 (1,0đ) đòi hỏi thí sinh nêu đủ 3 ý cá nhân (nhận thức, thái độ, hành động) và 1 ý xã hội (giáo dục, chính sách, dư luận xã hội); Mức 3 (0,75đ) nêu được 2 ý cá nhân và 1 ý xã hội; Mức 2 (0,5đ) nêu được 1 cá nhân+1 xã hội hoặc 3 cá nhân; Mức 1 (0,25đ) chỉ nêu được 1 ý.
- Kỹ năng phân tích và lập luận (0,5 điểm): Mức 4 (0,5đ) đòi hỏi trình bày được quan điểm cá nhân rõ ràng, chọn thao tác nghị luận phù hợp, lập luận chặt chẽ và có ít nhất 1 bằng chứng thực tế thuyết phục; Mức 3 (0,25đ) chỉ đạt 1 trong 3 yêu cầu; Mức 2 (0đ) không đạt yêu cầu nào.
- Hình thức và ngôn ngữ (0,25 điểm): Đánh giá sự tuân thủ hình thức đoạn văn, sự trong sáng của ngôn từ, đúng chính tả, ngữ pháp, trình bày sạch đẹp và đảm bảo dung lượng chuẩn (200 ± 100 chữ).
1.2. Rubric phần Viết bài (4,0 điểm):
- Nội dung kiến thức (2,5 điểm): Phân chia điểm rất chi tiết: Nhận diện các yếu tố thể thơ, đề tài, nhân vật trữ tình, bố cục (b2.1: 0,25đ); Cảm xúc, tâm trạng chiếc lá trước khi chú bé xuất hiện (b2.2.1: 0,75đ) và sau khi xuất hiện (b2.2.2: 0,75đ) - yêu cầu thí sinh phải chỉ ra được các yếu tố hình thức nghệ thuật rồi phân tích chúng để rút ra nội dung; Đánh giá đặc sắc nghệ thuật và nội dung bài thơ (b2.3: 0,5đ); Liên hệ mở rộng và rút ra thông điệp cuộc sống sâu sắc (b2.4: 0,25đ).
- Kỹ năng phân tích và lập luận (0,75 điểm): Mức 4 (0,75đ) yêu cầu biết chọn chi tiết tiêu biểu, lập luận sắc bén, vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác lập luận, liên hệ thuyết phục; Mức 3 (0,5đ); Mức 2 (0,25đ); Mức 1 (0đ) nếu chưa biết cách tổ chức lập luận.
- Hình thức và ngôn ngữ (0,75 điểm): Yêu cầu bố cục 3 phần rõ ràng, dung lượng 600 ± 200 chữ, hành văn cảm xúc, đúng ngữ pháp và không có lỗi chính tả. Điểm chấm giảm dần từ Mức 4 xuống Mức 1 tùy theo mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn.
3.2. Những điểm mới nổi bật so với kỳ thi năm 2025
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 kế thừa nền tảng định hướng năng lực của năm 2025 nhưng có những bước chuyển mình mang tính đột phá lớn:
- Chuyển từ chấm điểm theo ý sang chấm điểm bằng Rubric 4 mức độ: Ở năm 2025, Baremd chấm thi vẫn áp dụng cách cộng điểm theo từng ý nhỏ xuất hiện trong bài viết của học sinh, cộng với một phần điểm nhỏ cho tính sáng tạo và lỗi chính tả chung. Đến năm 2026, Rubric đã tách bạch rõ ràng cấu trúc bài làm thành 3 phần độc lập (Kiến thức - Kỹ năng lập luận - Hình thức ngôn ngữ), trong đó mỗi phần đều chia 4 mức độ đạt điểm rất rõ ràng. Điều này đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức mà phải rèn luyện kỹ năng viết thực thụ.
- Yêu cầu tích hợp phân tích kỹ thuật nghệ thuật cao hơn: Rubric 2026 quy định rõ ở phần phân tích bài thơ (b2.2.1 và b2.2.2), để đạt điểm tối đa (Mức 4), học sinh bắt buộc phải nêu được đầy đủ các yếu tố hình thức nghệ thuật rồi mới được phân tích để rút ra nội dung. Nếu thí sinh chỉ phân tích nội dung một cách chung chung mà không bám sát hình thức (thể thơ, tu từ, giọng điệu, nhịp điệu) thì chỉ đạt tối đa ở Mức 2 hoặc Mức 3, tức là bị giới hạn điểm số rất nghiêm khắc.
- Yêu cầu đề xuất giải pháp đa chiều và thực tiễn: Trong câu nghị luận xã hội năm 2026, câu lệnh đòi hỏi giải pháp thiết thực dưới góc độ của người trẻ. Thang điểm phân hóa sâu sắc dựa trên khả năng bao quát ý kiến của học sinh (phải có cả giải pháp cá nhân và giải pháp xã hội) thay vì chỉ nêu ý cá nhân như đề thi năm 2025.
3.3. Đánh giá những điểm khó đối với thí sinh
Những thay đổi trên đã mang đến những thách thức rất lớn đối với học sinh:
- Áp lực từ việc xử lý ngữ liệu mới hoàn toàn ngoài Sách giáo khoa: Học sinh không thể chuẩn bị trước tài liệu học thuộc lòng. Gặp một bài thơ tự do sâu sắc như “Những chiếc lá” của Nguyễn Đình Thi, nếu không có năng lực tự đọc hiểu thơ tự tin, học sinh rất dễ viết lan man, sa vào kể lể nội dung hoặc không nhận diện được sự chuyển biến phức tạp trong mạch cảm xúc chiếc lá.
- Khó khăn trong việc đáp ứng được các tiêu chí theo đáp án khi chấm theo hình thức theo Rubric mới.
- Sự sụt giảm phổ điểm chung của cả nước: Độ khó và tính phân hóa mạnh mẽ của cấu trúc đề thi 2026 đã phản ánh trực tiếp lên kết quả thi toàn quốc. Điểm trung bình môn Văn thi tốt nghiệp của cả nước năm 2026 chỉ đạt 6,5 điểm, giảm 0,5 điểm so với mức điểm trung bình 7,0 của năm 2025. Đặc biệt, cả nước hoàn toàn không có điểm 10 tuyệt đối môn Ngữ văn.
ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC ÔN TẬP
VÀ GIẢNG DẠY ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
Từ những phân tích sâu sắc về cấu trúc đề thi, sự vận hành của Rubric chấm thi mới và thực trạng phân hóa số liệu học sinh năm 2026, Tổ Chuyên môn Ngữ văn đề xuất định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy và ôn tập hiệu quả như sau:
1. Định hướng dành cho Giáo viên bộ môn:
Tăng cường dạy đọc hiểu theo thể loại: Giáo viên tuyệt đối không cho học sinh học thuộc các bài văn mẫu hay nội dung tác phẩm cũ. Cần sử dụng hệ thống văn bản ngoài sách giáo khoa phong phú để học sinh luyện tập kỹ năng nhận diện, phân tích hình thức nghệ thuật rồi mới rút ra tư tưởng nội dung văn bản.
Áp dụng Rubric trong kiểm tra thường xuyên: Tổ chức cho học sinh làm quen với Rubric chấm điểm ngay trên lớp. Học sinh phải tự chấm chéo bài của nhau dựa vào tiêu chí Rubric để hiểu rõ vì sao mình bị mất điểm ở kỹ năng lập luận, dung lượng hay thiếu hụt các ý nội dung kiến thức.
Xây dựng kế hoạch dạy học phân hóa đối tượng học sinh: Tập trung bồi dưỡng nhóm học sinh khá giỏi nâng cao kỹ năng phản biện xã hội, liên hệ mở rộng chiều sâu triết lý trong bài viết văn học. Đồng thời, có kế hoạch phụ đạo cho nhóm học sinh trung bình yếu nhằm khắc phục hoàn toàn điểm dưới trung bình.
2. Định hướng phương pháp ôn tập dành cho Học sinh
Chủ động tích lũy kiến thức đời sống xã hội và công nghệ số.
Rèn luyện kỹ năng viết cô đọng, bám sát yêu cầu dung lượng: Thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội đúng khoảng 200 chữ và bài văn phân tích khoảng 600 chữ một cách thường xuyên. Học sinh cần rèn luyện kỹ năng cấu trúc viết đoạn, lập luận chặt chẽ logic, khắc phục cách viết rườm rà, sáo rỗng.
Phát triển tư duy phản biện và liên hệ mở rộng sâu sắc: Khi phân tích một tác phẩm văn học, học sinh cần tự đặt câu hỏi so sánh với các tác phẩm cùng đề tài hoặc chủ đề, rút ra những thông điệp nhân sinh mang tính thời đại và vận dụng thiết thực vào nhận thức lẽ sống cá nhân để đạt trần điểm số tối đa ở tiêu chí sáng tạo, liên hệ.
Dành nhiều thời gian để rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh; linh hoạt trong quá trình dạy học.
KẾT LUẬN
Kỳ thi Tốt nghiệp THPT 2026 với cấu trúc đề thi cải tiến và Baremd chấm thi theo Rubric chuẩn hóa đã tạo nên một chuẩn mực giáo dục chất lượng mới. Kết quả xuất sắc của nhà trường chính là động lực to lớn cổ vũ tinh thần đổi mới giảng dạy của toàn bộ tập thể sư phạm. Bằng việc thực hiện đồng bộ các giải pháp định hướng nêu trên, nhà trường hoàn toàn tự tin duy trì và nâng cao hơn nữa vị thế dẫn đầu trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT tiếp theo.
Người báo cáo
Phan Văn Út