Từ thực tiễn đó, chúng tôi mạnh dạn chia sẻ một số kinh nghiệm dạy đọc hiểu tích hợp dạy viết bài nghị luận về thơ trữ tình, với mong muốn giúp học sinh tiếp cận thơ sâu hơn, viết văn nghị luận hay hơn, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, đặc biệt là nâng cao điểm bình quân trong kỳ thi TN.THPT năm 2026.
II. NỘI DUNG CHÍNH
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
a) Cơ sở lý luận:
- Dạy học Ngữ văn hiện nay theo định hướng phát triển năng lực, trong đó năng lực đọc hiểu và năng lực viết là hai trụ cột.
- Việc tích hợp đọc-viết giúp học sinh không chỉ hiểu văn bản mà còn vận dụng tri thức đọc hiểu để tạo lập văn bản mới.
- Theo quan điểm của chương trình GDPT 2018, việc học văn không dừng ở cảm thụ mà phải hướng đến hành động học tập có sản phẩm, cụ thể là bài viết nghị luận.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Học sinh THPT Giồng Riềng chủ yếu ở khu vực nông thôn, ít điều kiện tiếp xúc với môi trường văn học phong phú, khả năng cảm thụ và diễn đạt còn hạn chế.
- Giáo viên thường dạy đọc hiểu và dạy viết tách rời, khiến học sinh chưa nhận ra mối liên hệ giữa việc phân tích thơ và vận dụng vào bài nghị luận.
- Vì vậy, việc tích hợp hai hoạt động này trong cùng tiến trình dạy học là hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả và tạo hứng thú học tập.
2. Kinh nghiệm tổ chức dạy học đọc hiểu tích hợp dạy viết
a) Trước khi đọc:
- Hệ thống yêu cầu đạt theo đặc trưng thể loại:
+ Nội dung: Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo, chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích sự phù hợp giữa chủ đề, tư tưởng và cảm hứng chủ đạo trong văn bản; phân tích và đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm; phát hiện được các giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ văn bản.
+ Hình thức: Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của thơ trữ tình hiện đại như: từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, đối, chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình, yếu tố tượng trưng trong thơ, cấu tứ, hình tượng, biểu tượng, yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ,...
- Xác định mục tiêu rõ ràng: Không chỉ hiểu văn bản mà còn hướng tới sản phẩm viết cuối cùng (một đoạn hoặc bài nghị luận về thơ).
- Khơi gợi hứng thú: Sử dụng tranh ảnh, nhạc, đoạn video, hoặc câu hỏi mở để dẫn dắt vào mạch cảm xúc của bài thơ.
- Dự đoán chủ đề: Cho học sinh đọc nhan đề, đoán nội dung và cảm xúc chủ đạo.
Như vậy, nếu giáo viên chuẩn bị kỹ các yêu cầu trước khi đọc thì chính giai đoạn này sẽ giúp học sinh có tâm thế chủ động, biết định hướng mục tiêu đọc-viết và có vốn từ, vốn cảm xúc ban đầu để viết nghị luận sâu sắc hơn.
b) Trong khi đọc:
- Đọc diễn cảm, xác định giọng điệu thơ. Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận ra mạch cảm xúc, nhịp điệu, hình ảnh đặc trưng của thơ trữ tình.
- Tổ chức hoạt động nhóm: Tùy theo đặc điểm của từng lớp, giáo viên tổ chức chia nhóm để giúp các em hình thành được năng lực đọc hiểu. Tùy theo yêu cầu cần đạt mà giáo viên yêu cầu các nhóm thực hiện nhiệm vụ xoay quanh các đặc trưng của thơ trữ tình. Chẳng hạn: Xác định chủ đề, cảm xúc, nhân vật trữ tình; phân tích hình ảnh thơ, biện pháp tu từ; phân tích âm hưởng, giọng điệu, nhịp điệu; liên hệ, mở rộng ý nghĩa tư tưởng, thông điệp
- Ngoài việc tổ chức cho học sinh khám phá văn bản thơ trữ tình, giáo viên cũng lồng ghép để định hướng cho học sinh viết: Trong quá trình phân tích, giáo viên gợi câu hỏi kiểu “Nếu viết một đoạn văn nghị luận về cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ này, em sẽ triển khai luận điểm nào?”
- Sử dụng sơ đồ tư duy hoặc phiếu học tập. Điều này giúp học sinh hệ thống hóa các yếu tố (nội dung-nghệ thuật-cảm xúc) để dễ dàng chuyển hóa thành luận điểm khi viết.
Trong quá trình đọc, nếu chúng ta hướng dẫn cho học sinh được những yêu cầu trên thì chắc rằng, các em sẽ hiểu sâu, cảm được cái “hồn” của thơ; đồng thời dần hình thành cấu trúc tư duy nghị luận (luận đề – luận điểm – chọn lọc từ ngữ, hình ảnh để phân tích, cảm nhận).
c) Sau khi đọc:
Trên cơ sở học sinh đã biết cách khám phá được thơ trữ tình, giáo viên sẽ rèn luyện cho học sinh viết văn nghị luận. Tùy theo tình hình thực tế của lớp mà chúng ta luyện cho học sinh viết đoạn hoặc viết bài. Để giúp học sinh luyện viết, chúng ta hướng dẫn học sinh theo các bước:
- Một là xây dựng dàn ý dựa trên kết quả đọc hiểu.
- Hai là viết đoạn, viết bài, sửa bài: Có thể cho học sinh viết một đoạn nghị luận 200 chữ ngay sau tiết đọc hiểu. Sau đó, giáo viên nhận xét, học sinh chỉnh sửa và hoàn thiện; nếu viết bài thì giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh về nhà viết và quy định thời gian để nộp lại, giáo viên chấm, chỉnh sửa và trả lại cho học sinh.
- Liên hệ mở rộng: So sánh cảm xúc, giọng thơ với những tác phẩm khác cùng chủ đề.
3. Ví dụ minh họa
Hướng dẫn Đọc-viết bài thơ:
NGỌN KHÓI
Hữu Thỉnh
Sao tôi cứ lan man cùng khói ấy
Mẹ nhóm lên nghi ngút mé đồi
Bùn đất, cỏ khô ngùn ngụt cháy
Cả mùa đông tìm đến sưởi cùng tôi
Khói như cây biết sinh quả theo mùa
Thong thả chín, mẹ lại bồi thêm cỏ
Tháng Chạp gầy hoa mua nhen nhóm nở
Tím như là an ủi cả chiều đông
Ngọn khói xưa giờ ở nơi đâu
Có nhớ mẹ tôi mé đồi cỏ cháy
Có cay đắng trước nỗi đời oan trái
Có thấm buồn bèo bọt táp ngang sông
Ngọn khói xưa còn nhớ tôi không
Tóc trôi dạt vẫn hăng mùi cỏ đất
Đi suốt nụ cười, phía sau tay bắt
Vẫn lan man cùng ngọn khói quê nghèo
- Trước khi đọc:
+ Giáo viên định hướng cho học sinh các yêu cầu cần đạt khi tiếp cận bài thơ ở các mức độ: Biết (Nhận biết được thể thơ, hình ảnh, từ ngữ nghệ thuật, biện pháp tu từ nổi bật; chỉ ra được nhân vật trữ tình, cảm hứng chủ đạo; Hiểu (Hiểu chủ đề, thông điệp, giọng điệu bài thơ; Phân tích tác dụng một số hình ảnh, biện pháp tu từ; Nhận xét mạch vận động cảm xúc trong từng khổ); Vận dụng ( Liên hệ: hình ảnh "khói"- biểu tượng quê nhà trong thơ Việt; liên hệ với bản thân; vận dụng tri thức đọc hiểu để viết đoạn/bài nghị luận văn học).
+ Yêu cầu học sinh đọc trước bài thơ, ghi chép từ khó; chuẩn bị một kỉ niệm gắn với hình ảnh “khói”, “bếp”, “mẹ”.
cho học sinh xem hình ảnh người mẹ nhóm bếp, gợi hỏi cảm xúc.
- Trong khi đọc: Giáo viên tổ chức học sinh thảo luận nhóm theo các mức độ:
+ Nhiệm vụ nhóm 1(mức độ biết): Nhận diện thông tin – yếu tố nghệ thuật: Xác định thể thơ, xác định nhân vật trữ tình, tìm từ ngữ, hình ảnh gợi tình cảm với mẹ, tìm biện pháp tu từ trong bài thơ.
+ Nhiệm vụ nhóm 2 (mức độ hiểu): Phân tích-giải thích-đánh giá: Xác định cảm hứng chủ đạo, phân tích hiệu quả phép điệp “Ngọn khói xưa”, chỉ ra mạch vận động cảm xúc, giải thích tác dụng hình ảnh hoa mua tím trong khổ 2.
+ Nhiệm vụ nhóm 3 (mức độ vận dụng): liên hệ - khái quát - chuẩn bị cho viết: “Ngọn khói” mang ý nghĩa biểu tượng gì?; Liên hệ hình ảnh “khói - bếp - mẹ” với một tác phẩm khác (VD: “Bếp lửa” - Bằng Việt).
- Sau khi đọc (Nhiệm vụ: chuyển hoá tri thức đọc hiểu sang viết văn nghị luận): Giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng viết theo các bước:
1. Lập dàn ý:
- Mở đoạn/bài: Giới thiệu bài thơ + hình tượng “ngọn khói”.
- Thân đoạn/bài:
+ Luận điểm 1: Ngọn khói là hình ảnh gợi về mẹ, tuổi thơ.
+ Luận điểm 2: Ngọn khói mang giá trị biểu tượng (tình mẹ- quê hương- ký ức nâng đỡ).
+ Luận điểm 3: Nghệ thuật (điệp ngữ, hình ảnh, giọng điệu) tạo chiều sâu cảm xúc.
- Kết đoạn/bài: Khẳng định ý nghĩa nhân sinh của biểu tượng “khói”.
2. Luyện viết:
- Thực hiện tại lớp:
+ Yêu cầu: Viết đoạn văn 200 chữ trình bày cảm nhận về hình tượng “ngọn khói” trong bài thơ
+ Giáo viên qui định thời gian, sau đó thu khoảng 3 đến 5 bài và nhận xét trực tiếp.
- Giao về nhà:
+ Yêu cầu: Viết bài văn nghị luận 600 chữ phân tích tâm trạn của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Ngọn khói” của Hữu Thỉnh.
+ Giáo viên qui định thời gian nộp, chấm và sửa bài cho học sinh.
III. KẾT LUẬN
Việc dạy học đọc hiểu tích hợp dạy viết bài nghị luận về thơ trữ tình giúp học sinh hiểu sâu văn bản, hình thành năng lực tư duy, năng lực diễn đạt và tình yêu văn học. Đây là hướng đi phù hợp với tinh thần đổi mới giáo dục hiện nay- chuyển từ học để biết sang học để làm và sáng tạo.
Người thực hiện
Phan Văn Út